Đường dây nóng: 0212.3850221

Khu căn cứ Mường Trai trong Cách mạng tháng 8 năm 1945

Cập nhật: 06:00:06 28 / 02 / 2024
Lượt xem: 6464
Cách mạng tháng Tám ở Sơn La là kết quả nhiều năm tuyên truyền, vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng bước lên trận tuyến đấu tranh với kẻ thù của chi bộ nhà tù Sơn La. Một trong những yếu tố then chốt đảm bảo giành chính quyền thắng lợi ở Sơn La là việc xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc. Ngoài khu căn cứ cách mạng Mường Chanh thuộc châu Mai Sơn, còn có khu căn cứ cách mạng Mường Trai nằm bên tả ngạn sông Đà, châu Mường La. Nếu như khu căn cứ Mường Chanh có vai trò rất lớn đối với việc giành chính quyền thắng lợi ở Mai Sơn và Yên Châu, thì khu căn cứ Mường Trai lại có vai trò hết sức quan trọng trong việc chính quyền thắng lợi ở Mường La, Thuận Châu và Tỉnh lỵ Sơn La trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

     Cách mạng tháng Tám ở Sơn La là kết quả nhiều năm tuyên truyền, vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng bước lên trận tuyến đấu tranh với kẻ thù của chi bộ nhà tù Sơn La. Một trong những yếu tố then chốt đảm bảo giành chính quyền thắng lợi ở Sơn La là việc xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc. Ngoài khu căn cứ cách mạng Mường Chanh thuộc châu Mai Sơn, còn có khu căn cứ cách mạng Mường Trai nằm bên tả ngạn sông Đà, châu Mường La. Nếu như khu căn cứ Mường Chanh có vai trò rất lớn đối với việc giành chính quyền thắng lợi ở Mai Sơn và Yên Châu, thì khu căn cứ Mường Trai lại có vai trò hết sức quan trọng trong việc chính quyền thắng lợi ở Mường La, Thuận Châu và Tỉnh lỵ Sơn La trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

     Như chúng ta đã biết, sau khi được thành lập, Chi bộ nhà tù Sơn La đã tích cực tuyên truyền, giác ngộ các tầng lớp nhân dân ở Tỉnh lỵ, thành lập được 2 tổ thanh niên cứu quốc ở Mường La vào năm 1943. Sau vụ đấu tranh đòi ruộng đất của nhân dân Chiềng Xôm, nhất là việc anh Lò Văn Giá bị địch sát hại vào cuối năm 1943, phong trào đấu tranh của nhân dân Mường La tạm thời lắng xuống. Nhận thấy, khu vực tỉnh lỵ và châu lỵ Mường La[1] là vị trí sát nách địch, dễ bị khủng bố, không thuận lợi để xây dựng căn cứ cách mạng lâu dài. Chi bộ nhà tù đã chỉ thị cho một số thành viên của tổ Thanh niên Cứu quốc Mường La tìm địa bàn xa tỉnh lỵ hơn để xây dựng căn cứ cách mạng, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền ở Sơn La.

     Vùng tả ngạn Mường La khi đó thuộc tổng Mường Trai[2], có ranh giới giáp Than Uyên, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Ngọc Chiến, Tú Lệ... có sông Đà chảy dọc chia đất Mường La thành 2 phần hữu ngạn và tả ngạn. Lực lượng thống trị từ châu đến tỉnh đều nằm ở bên hữu ngạn, phần tả ngạn sông Đà địch gần như bỏ trống. Nếu bị khủng bố ở hữu ngạn có thể rút lực lượng cách mạng vượt sông Đà sang đất tả ngạn dựa vào dân chống lại địch, bảo toàn lực lượng. Nhân dân ở tả ngạn Mường La vốn có truyền thống đấu tranh chống Pháp (như phong trào đấu tranh của thủ lĩnh Cầm Văn Tứ đầu thế kỷ XX). Vùng này lại có lương thực dồi dào, địa thế hiểm trở, dễ dàng phục kích, phản công địch. Nhân dân trong vùng thạo dùng thuyền bè xuôi về chợ Bờ, ngược lên Lai Châu để buôn bán, trao đổi hàng hóa, qua đó có quan hệ giao lưu với miền xuôi nhiều hơn so với dân cư dân nằm cách xa bờ sông Đà.

     Với những thuận lợi đó, Chi bộ nhà tù nhất trí chủ trương xây dựng căn cứ địa cách mạng thứ 2 của tỉnh ở vùng Mường Trai, giao cho đồng chí Cầm Dịn phụ trách. Cầm Dịn là cháu nội của thủ lĩnh Cầm Văn Tứ, vốn là một dòng họ lớn có uy tín ở Mường Trai, có nhiều thuận lợi để tuyên truyền, giáo dục nhân dân các dân tộc ở Tả ngạn hướng theo cách mạng, xây dựng nơi đây thành căn cứ địa cách mạng quan trọng của tỉnh Sơn La.

     Nhận chỉ đạo của Chi bộ nhà tù thông qua đồng chí Nguyễn Phúc, đồng chí Cầm Dịn và tổ Thanh niên Cứu quốc Mường La đã nỗ lực xây dựng khu căn cứ Mường Trai, mở rộng xuống cả vùng Mường Bằng, Mường Chùm ở bên hữu ngạn sông Đà. Nhiều sáng kiến rất thực tế của đồng chí Cầm Dịn luôn được tập thể lãnh đạo phong trào ủng hộ như: Chưa giành chính quyền ở cơ sở để tránh làm rung động đến địch ở Tỉnh lỵ, đồng thời khéo léo cảm hóa, thuyết phục những tạo bản và các chức dịch nhỏ hướng theo cách mạng, trong khi vẫn giữ quyền lợi của họ một cách hợp lý. Mặt khác, khéo léo tuyên truyền, kết nạp anh em, con cháu các tạo bản, các chức dịch và đông đảo thanh niên con em nhân dân lao động tham gia tổ chức thanh niên cứu quốc; phát động phong trào tự trang bị vũ khí để xây dựng đội tự vệ ở các bản...

     Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ nhà tù Sơn La, phong trào chuẩn bị khởi nghĩa ở Mường Trai và các địa phương khác ở Sơn La phát triển mạnh mẽ. Được sự tuyên truyền, vận động tích cực của các thành viên của đội Thanh niên cứu quốc Mường La như: Cầm Dịn, Cầm Văn Thương, Cầm Duyên, Quàng Huyên... nhiều thanh niên con em phìa, tạo trong vùng như: Cầm Sung, Cầm Thu, Vì văn Sang, Vì Văn Bun, Lò Văn Ộ, Cầm Thịnh, Cầm Ông... đều trở thành những nhân cốt của phong trào cách mạng ở Mường Trai. Những trung kiên này được đồng chí Cầm Dịn phân công phụ trách các tổ thanh niên, tiếp tục phát triển phong trào sâu rộng ra toàn vùng. Tổ phát triển cơ sở ở Mường Trai, Hua Trai, Chiềng Lao do các trung kiên Cầm Sang, Cầm Duyên, Cầm Nghịn phụ trách; tổ phát triển cơ sở ở Ít Ong do các trung kiên Lò Văn Ộ, Lò Văn Cương, Tòng Lòn phụ trách; tổ phát triển ở Pi Toong do Vì Văn Lôi, Vì Văn Sang phụ trách; tổ phát triển ở Mường Pia giao cho Cầm Ông, Cầm Thinh phụ trách.

     Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, các đội tự vệ đã tổ chức tìm kiếm, thu lại súng, đạn do quân Pháp chạy trốn để lại. Chỉ trong một tháng đã thu được 2 khẩu tiểu liên, 15 khẩu súng trường, nhiều hòm lựu đạn. Các đội tự vệ thường xuyên tổ chức luyện tập quân sự dưới hình thức đi săn thú rừng, kết hợp luyện tập quân sự. Khi nghỉ ngơi trong rừng, các đồng chí phụ trách tuyên truyền, giáo dục, phổ biến nhiệm vụ cách mạng cứu nước cho anh em để củng cố nhận thức và lòng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng.

     Tháng 4-1945, đồng chí Lê Trung Toản được Xứ ủy phái trở lại Sơn La lãnh đạo phong trào chuẩn bị khởi nghĩa, khi được nghe báo cáo về căn cứ Mường Trai, đồng chí rất tán thành và yêu cầu đẩy mạnh thêm để theo kịp với phong trào của cả nước. Đến tháng 7-1945, khu căn cứ Mường Trai đã xây dựng được 1 trung đội tự vệ tập trung và trên 3 trung đội ở rải rác khắp các bản. Các đội tự vệ này, bình thường ở nhà lao động, sản xuất, khi có việc, trong một ngày có thể huy động được. Lương thực sử dụng khi tập trung huấn luyện dùng thóc thuế năm 1945 chưa nộp lên châu, tỉnh bằng cách bày cho phìa, tạo khai báo lên châu là mất mùa không thu được thuế và vận chuyển khó khăn. Do đó, phong trào chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang của thanh niên vùng Mường Trai phát triển rất nhanh.

     Trong lúc không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở Mường La đang phát triển mạnh mẽ, ngày 21-8-1945, Ban lãnh đạo khởi nghĩa ở Sơn La nhận được tin Hà Nội đã giành chính quyền thắng lợi do đồng chí Đỗ Trọng Thát chuyển từ Phù Yên lên[3]. Đồng chí Chu Văn Thịnh đã tổ chức họp Ban lãnh đạo khởi nghĩa tại nhà đồng chí Nguyễn Phúc ngay trong đêm ngày 21-8-1945 để thống nhất kế hoạch tổng khởi nghĩa ở Sơn La, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các các thành viên phụ trách các đội tự vệ vũ trang giành chính quyền ở các địa phương:

- Lực lượng cách mạng Tỉnh lỵ và châu lỵ Mường La do các đồng chí Quàng Đôn, Đỗ Trọng Thát, Nguyễn Tử Du phụ trách sẽ trực tiếp giành chính quyền ở 2 châu Mường La và Thuận Châu vào tối 22-8-1945 và rạng sáng ngày 23-8-1945. Sau khi giành chính quyền ở Thuận Châu và Mường La thắng lợi, bộ phận này phải hành quân trở về tập kết ở bản Pá Giạng (thuộc thị trấn Ít Ong ngày nay, bên tả ngạn sông Đà). Tại đây sẽ gặp lực lượng của đồng chí Cầm Dịn từ Mường Trai ra ứng đón sẵn ở đó. Ngày 24-8-1945, 2 lực lượng này sẽ hợp quân lại với nhau, sắp xếp đội ngũ, thống nhất chỉ huy, sau đó chuẩn bị lương thực, thuyền bè qua sông để sáng ngày 25-8-1945, vượt sông Đà tiến về đồi Khau Cả, phối hợp với đội quân của Mường Chanh giành chính quyền ở Tỉnh lỵ.

- Lực lượng ở Mường Chanh do các đồng chí Cầm Minh, Cầm Vĩnh Tri, Hoàng Luông, Nông Văn Mệnh phụ trách, sẽ trực tiếp giành chính quyền ở 2 châu: Mai Sơn và Yên Châu cùng thời gian như trên. Ngày 24-8-1945, sau khi giành chính quyền ở Mai Sơn và Yên Châu, lực lượng này hành quân trở về tập kết ở Mai Sơn hoặc Mường Chanh, sắp xếp lại đội ngũ để tiến ra đồi Khau Cả phối hợp với bộ phận Mường La giành chính quyền ở Tỉnh lỵ.

     Ban lãnh đạo đã chính thức phát động khởi nghĩa giành chính quyền ở Sơn La, các đồng chí được phân công khẩn trương triển khai thực hiện theo kế hoạch. Đồng chí Nguyễn Phúc đã viết thư báo cho đồng chí Cầm Dịn gấp rút tập trung lực lượng, tổ chức giành chính quyền ở tả ngạn Mường La, đồng thời bố trí một bộ phận lực lượng tự vệ canh phòng ở Khau Bỏng, nơi hiểm yếu giáp với Than Uyên (Lai Châu) để bảo vệ hậu phương cho căn cứ Mường Trai. Sau khi giành chính quyền thắng lợi, tiếp tục đưa đại bộ phận lực lượng tự vệ ra ứng trực ở Pá Giạng để chuẩn bị hợp quân với lực lượng tự vệ Mường La tiến về Tỉnh lỵ phối hợp với lực lượng Mường Chanh giành chính quyền ở tỉnh lỵ khi có lệnh.

     Nhận được chỉ thị từ đồng chí Nguyễn Phúc, đồng chí Cầm Dịn đã phát động khởi nghĩa giành chính quyền ở Mường Trai, khi đó chỉ là hình thức vì các phìa tạo ở địa phương đã ngả theo cách mạng. Sau đó, việc giành chính quyền ở Tỉnh lỵ Sơn La diễn ra như đúng kế hoạch: Sau khi giành chính quyền ở Mường La, Thuận Châu, “Rạng sáng ngày 23-8-1945 lực lượng giành chính quyền huyện Mường La, Thuận Châu tập kết tại bản Pá Giạng. Tối ngày 24-8-1945 lực lượng tổng Hiếu Trai đến tập trung tại bản Pá Giạng đã có 150 người, Ban lãnh đạo khởi nghĩa Sơn La đã cho lực lượng vượt sông Đà, đảm bảo tối 25 lực lượng phải bao vây đồi Khau cả, lực lượng Tổng Hiếu trai còn gần 50 người tối 25 tiếp tục vượt sông, một mặt Ban lãnh đạo giao cho xã Mường Bú, xã Chiềng Xôm (Tổng Mường Bú, xổng Họ Luông), các bản dọc đường phải nấu cơm chuẩn bị thức ăn cho lực lượng bảo đảm đúng thời gian bao vây đồi Khau cả”[4].“Chúng tôi xuất phát từ Mường Bú từ 4 giờ chiều thì 11 giờ đêm mới tới Sơn La và chiếm gọn trại bảo an binh ... Lúc này chúng tôi có đến 12 súng máy và khá nhiều súng trường, cũ và mới vào khoảng 400 khẩu có thể trang bị cho một tiểu đoàn tác chiến...[5].

     Quân Nhật ở Tỉnh lỵ đóng trên đồi Khau Cả do quan ba O-Ba-ma-ta chỉ huy, gồm một đại đội quân Nhật và 2 đại đội bảo an, tổng quân số có khoảng 500 lính. Lực lượng của ta từ các nơi kéo về có khoảng 500 người với đủ các loại vũ khí, khí thế cách mạng sôi sục, rầm rập tiến về Tỉnh lỵ, chia làm 3 bộ phận: một bộ phận vào đóng tại khu vực bản Giảng, một bộ phận ở nghĩa trang gốc ổi (nghĩa trang Liệt sĩ hiện nay), còn đại bộ phận bao vây đồi Khau Cả, cả ba cánh quân tạo thành thế gọng kìm, kẹp chặt quân Nhật ở giữa. Trước khí thế mạnh mẽ của quân khởi nghĩa, đồng chí Lò Văn Mười là Trưởng trại bảo an binh đã được ta giác ngộ từ trước, tự động mở cửa đồn, giao nộp khí giới cho cách mạng. Đồng chí Chu Văn Thịnh cùng một số đồng chí đại diện cho quân cách mạng lên thương thuyết với quân Nhật, yêu cầu chúng đầu hàng nếu không sẽ nổ súng. Trước khí thế mạnh mẽ của lực lượng cách mạng, quân Nhật buộc phải trao cho ta vũ khí đã thu giữ của Pháp trước đó, chấp nhận rút khỏi Sơn La.

    Theo đồng chí Cầm Dịn, khi tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Tỉnh lỵ Sơn La, lực lượng Mường Chanh chưa kịp về phối hợp: “Tối 25/8 sau khi đã triển khai lực lượng, Ban lãnh đạo cử đại diện vào thương lượng Nhật đầu hàng. Kêu gọi lính bảo an ra nộp súng, lực lượng Mường Chanh sau khi giành chính quyền xã Mường Chanh, chiếm Mai Sơn đi tiếp xuống Châu Yên giành chính quyền chưa kịp về phối hợp với lực lượng Mường La cùng vào tỉnh, bọn Nhật đã thất trận, lính Bảo an một số đã được Chi bộ Nhà tù giác ngộ nên cũng không có chống đối gì, bọn Nhật chỉ xin ta cho rút về Hà Nội an toàn và trao lại toàn bộ súng của Pháp trước đây Nhật đã thu giữ” [6].

    Cũng theo hồi ký của các đồng chí Nguyễn Phúc, Đỗ Trọng Thát, Lò Văn Dọn, sau khi thương thuyết với quân Nhật thành công vào rạng sáng ngày 26-8-1945 thì lực lượng Mường Chanh mới từ Yên Châu lên đến Tỉnh lỵ[7]. Tuy thiếu hẳn một bộ phận chủ lực, nhưng khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh vẫn giành được thắng lợi. Dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo khởi nghĩa Sơn La, lực lượng tự vệ Mường La đã phối hợp hiệu quả, thống nhất, tạo áp lực quân sự mạnh mẽ khiến quân Nhật không dám chống cự.

    Sau khi giành chính quyền ở Tỉnh lỵ thành công, sáng ngày 26-8-1945, Tỉnh lỵ Sơn La tưng bừng cờ đỏ sao vàng, từng đoàn thiếu nhi, thanh niên hô vang khẩu hiệu trong bầu không khí tự do, độc lập. 14 giờ ngày 26-8-1945, tại sân trại Bảo an binh trên đồi Khau Cả, diễn ra cuộc mít tinh trọng thể gồm các lực lượng vũ trang cùng đông đảo quần chúng nhân dân. Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Sơn La được thành lập, Ban Cán sự Mặt trận Việt Minh tỉnh Sơn La ra mắt đồng bào. Đồng chí Chu Văn Thịnh thay mặt cho Ban Cán sự Việt Minh trịnh trọng tuyên bố: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Sơn La đã thắng lợi, chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân; xóa bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột của phìa, tạo, quan lại và các chức dịch địa phương, nhân dân từ nay được tự do và làm chủ bản mường.

    Cách mạng thành công vào ngày 26/8/1945 là một sự kiện trọng đại, đánh dấu bước ngoặt lớn lao trong lịch sử tỉnh Sơn La. Quá trình đó có sự đóng góp rất lớn của lực lượng tự vệ khu căn cứ cách mạng Mường Trai. Với tinh thần cách mạng quả cảm, được sự chỉ đạo, dẫn dắt của Chi bộ nhà tù và lòng nhiệt tình cách mạng của Đội Thanh niên Cứu quốc Mường La, phong trào cách mạng của nhân dân vùng tả ngạn sông Đà đã phát triển mạnh mẽ, hình thành khu căn cứ vững chắc, trở thành hậu phương trực tiếp cho lực lượng cách mạng giành chính quyền thắng lợi ở hai huyện Mường La, Thuận Châu và Tỉnh lỵ Sơn La.

    Khu căn cứ cách mạng Mường Trai và khu căn cứ cách mạng Mường Chanh (huyện Mai Sơn) là kết quả quá trình xây dựng, tập hợp lực lượng cách mạng của Chi bộ nhà tù Sơn La, là minh chứng sống động cho sức mạnh dân tộc, tinh thần đoàn kết và đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt, đưa nhân dân Sơn La từ thân phận nô lệ tiến lên đánh đổ kẻ thù, giành lại độc lập, tự do cho quê hương./.

Hà Ngọc Hòa

Hội Khoa học Lịch sử tỉnh

 


[1] Trước năm 1961, vùng tỉnh lỵ Sơn La (Thành phố ngày nay) thuộc châu (huyện) Mường La.

[2] Mường Trai trước kia thuộc tổng (xã) Hiếu Trai, sau đổi là xã Mường Trai. Theo danh sách thống kê của công sứ Sơn La năm 1926, xã Mường Trai (Hiếu Trai) khi đó gồm 87 bản thuộc các xã: Nậm Giôn, Chiềng Lao, Hua Trai, Mường Trai, Pi Toong, Thị trấn Ít Ong, Nậm Păm, Chiềng Muôn, Chiềng Hoa, Chiềng San, Chiềng Ân, Chiềng Công ngày nay. Sau năm 1954, xã Mường Trai được chia thành nhiều xã, trong đó có cả xã Mường Trai ngày nay. Ngày 16/1/1979 xã Mường Trai tiếp tục được chia thành 2 xã Mường Trai và Hua Trai.

[3] Châu Phù Yên đã khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi từ tháng 7-1945. Đồng chí Đỗ Trọng Thát là lính bảo an được ta bí mật cài vào đóng ở đồn Vạn Yên. Tại đây có đài vô tuyến điện nên nhận được tin từ Hà Nội ngay sau khi khởi nghĩa thắng lợi.

[4] Theo Hồi ký của đồng Cầm Dịn, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.

[5] Theo Hồi ký của ông Lò Văn Dọn, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.

[6] Hồi ký của đồng Cầm Dịn, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Sơn La.

[7] Cũng có ý kiến khác cho rằng một bộ phận của đội tự vệ Mường Chanh đi theo đường Bản Lầm lên phối hợp với Mường La giành chính quyền ở Thuận Châu, sau đó cùng tiến về giành chính quyền ở Tỉnh lỵ.

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 3186
Hôm qua : 15382
Tháng này : 54246
Tổng truy cập : 4558296
Đang trực tuyến : 5